Ba quy tắc đọc phân tích về thuật ngữ, nhận định và lập luận nêu trên đều nhằm phục vụ cho quy tắc 8 - bước cuối cùng trong quá trình làm sáng tỏ nội dung một cuốn sách. Tưởng tượng rằng, có một số diễn viên tài năng đang chờ bạn chỉ đạo. Yêu cầu có vai trò quan trọng hơn cả là phải tìm ra vấn đề tác giả nêu ra là gì.
Trong hầu hết các trường hợp, chỉ những từ được sử dụng đặc biệt mới quan trọng với cả tác giả và độc giả. Tất nhiên, trong tổng số các cuốn tạo thành tài liệu nghiên cứu về chủ đề của bạn, bạn vẫn phải đọc từng cuốn với những kỹ năng của việc đọc phân tích. Bạn sẽ biết ngay sau khi đọc lướt qua.
Toàn bộ bài thơ nói lên một điều mà không bao giờ có thể giới hạn trong khuôn khổ các nhận định. Nếu bản thân họ không làm được điều này, họ phải tìm đến ai đó có thể làm được ví dụ như một tu sĩ hay giáo sĩ Do Thái hoặc người có chức vụ cao hơn họ trong tổ chức. Ví dụ, khi ta muốn đọc một tài liệu nào đó nhưng nó lại được viết bằng tiếng nước ngoài mà ta không thạo lắm.
Nhưng vì hầu hết kịch được viết theo thể thơ, mà thơ vốn ít nhiều không rõ ràng lắm về mặt thứ tự sắp xếp, nên bạn thường phải đọc to từng đoạn lên. Còn với những vấn đề do khoa học xã hội giải quyết, chúng ta thường có những ý kiến hết sức mạnh mẽ. Nhờ có nghĩa mà người ta tìm ra được mối liên hệ giữa các từ khác nhau.
Tuy nhiên, sự đơn giản của nó nằm ở chỗ nó mang tính cơ bản, nền tảng. Nếu nhà khoa học miêu tả một thí nghiệm sống động và rõ ràng thì bạn sẽ không gặp khó khăn gì. Giai đoạn đầu tiên gọi là sẵn sàng đọc.
Hầu hết các cuốn sách viết về các sự kiện thời sự đều nhằm mục đích chứng minh. Nếu độc giả không hiểu cuốn sách đó, họ chỉ có một cách duy nhất là dựa vào các kinh nghiệm đặc biệt của bản thân. Ông còn nói thêm: Mọi người đều có thể nhận ra tôi khi đọc sách của tôi và có thể hiểu được sách của tôi khi nhìn vào bản thân tôi.
Tuy nhiên, chỉ biết suy nghĩ của tác giả thôi chưa đủ. Ví dụ, trong suy nghĩ của một nhà nghiên cứu nguyên tử thường tồn tại một cấu trúc phức tạp mang tính giả thuyết về hiện thực, khiến ông ta nhìn nhận một số dữ kiện theo hướng khác với một người nguyên thuỷ. Ở đây có sự hàm ẩn về một cấu trúc khái niệm - một hệ thống những nhận định và câu hỏi về một chủ đề duy nhất.
Tuy nhiên, ít khi bạn làm được điều chân thực của những nhận định đó trừ phi bạn đã đọc kỹ cuốn sách. Đây là một cách đọc chủ động. Hãy nhớ kỹ điều này khi bạn lập bảng so sánh hệ thống từ vựng và thuật ngữ của tác giả.
Đơn vị logic mà quy tắc 7 hướng tới là lập luận - một chuỗi những nhận định, cái nọ bổ trợ cho cái kia. Dù vậy, ta vẫn phải cố tìm hiểu. Mọi cuốn sách hay đều có những vấn đề khó nên cần đọc thật chậm.
Các tác giả và tác phẩm khác nhau sẽ giúp người đọc mài giũa khả năng đọc hiểu mỗi phần. Kết thúc giai đoạn này, học sinh có thể tự mình đọc được các cuốn sách đơn giản. Họ thích đọc tiếp hơn là dừng lại cẩn thận xem xét những câu quan trọng.