Tất nhiên, trong đó cũng có một số từ đã tồn tại rất lâu trong lĩnh vực triết học. Triết học phải giải thích bản chất của sự việc chứ không phải mô tả như khoa học. Còn với những vấn đề do khoa học xã hội giải quyết, chúng ta thường có những ý kiến hết sức mạnh mẽ.
Nhà thơ Mark Van Doren từng nói: Trong thơ ca và kịch, mỗi câu chỉ là một phương tiện truyền đạt tối nghĩa hơn. Yêu cầu thứ hai khó hơn rất nhiều, đó là bạn phải biết được cuốn sách nào nhìn chung nên đọc. Nếu quy tắc 2 hướng bạn chú ý đến tính chỉnh thể, thì quy tắc 3 lại hướng bạn tới tính phức tạp của cuốn sách.
Hy vọng độc giả nào quán triệt những quan điểm này, anh ta sẽ không bị cảm xúc hay định kiến chi phối. Một lần nữa, chúng tôi nhấn mạnh rằng để trả lời các câu hỏi đó ngoài suy nghĩ ra thì không có cách nào khác. Các tác giả khác nhau thường sử dụng những từ ngữ khác nhau khi nói về cùng một vấn đề, hoặc những từ ngữ giống nhau khi đề cập đến những vấn đề khác nhau.
Do đó, độc giả không chỉ nêu ý kiến phản đối hoặc tán thành mà còn phải bảo vệ ý kiến của mình bằng những lý do phù hợp. Tính cần thiết đó vẫn giữ nguyên giá trị và khi tóm tắt luận điểm của một tác giả được trình bày, bạn phải dùng chính ngôn từ đó chứ không phải của tác giả. Theo cách hiểu cũ, thơ được sáng tác từ nơi sâu thẳm tâm hồn nhà thơ; khởi nguồn của những vần thơ là một nơi bí ẩn trong thế giới sáng tạo của lý trí hoặc tâm hồn.
Sự phân loại như trên không rõ ràng và triệt để. Tuy nhiên, các nhà triết học thường hay đặt ra những từ mới, hoặc biến một số từ trong ngôn ngữ đời thường thành từ chuyên môn. Hạn chế của công thức trên là đưa sẵn trật tự cũng như mối quan hệ giữa các phần của cuốn sách.
Vì thế, tác phẩm Thần học Summa thấm đẫm tinh thần tranh luận và bàn bạc. Những nhà văn này quan niệm tình yêu là một hành động nhận thức, không phải là hành động cảm xúc. Có thể anh ta chưa biết điều này cụ thể là gì, phải đợi đến mức đọc cao hơn mới rõ, nhưng anh ta đã biết được một trong hai điều: hoặc là cuốn sách này hay, đáng để đọc hoặc là nó không mang lại hiểu biết mới mẻ nào về vấn đề nên dù có lý thú hay nhiều thông tin đến đâu cũng không nên đọc nó làm gì.
Trong những chương trước, chúng tôi đã thảo luận kỹ việc đọc sách như thế nào là tích cực. Đối với việc đọc phân tích, chúng tôi đã nói rằng độc giả có kinh nghiệm thường tiến hành đồng thời với các bước mà người mới bắt đầu đọc phải làm từng bước một. Sự phân loại như trên không rõ ràng và triệt để.
Tất cả những điều trình bày ở trên đầu dẫn đến một điểm là bạn chỉ có thể nói mình đã đọc tác phẩm một cách hiệu quả khi bạn hoàn thành được nó. Nhưng khi được yêu cầu trình bày lại nhận định theo ý hiểu của họ thì họ thường không thể diễn giải được (ngay cả cách hiểu đơn giản nhất là nếu một vật không tồn tại thì nó không thể hoạt động được). Theo quan sát của họ (không dùng kính viễn vọng), dường như các thiên thể chỉ thay đổi vị trí, chúng dường như không sinh ra và cũng không mất đi như cây cỏ hay muông thú, chúng cũng không thay đổi về kích thước và chất lượng trong khi tất cả các vật thể trên trái đất đều thay đổi về nhiều khía cạnh chứ không phải chỉ về vị trí.
Chân lý, giả định, hay các nguyên lý cơ bản đều cần đề làm chứng cớ chứng minh những nhận định khác. Đây là kiểu đọc ít đòi hỏi nhất, và yêu cầu ít nỗ lực nhất. Sẽ uổng phí nếu bạn đọc một cuốn sách thật chậm khi nó chỉ đáng để bạn đọc nhanh.
Decartes từng nói: Đọc sách là được trò chuyện với những người thành đạt nhất của những thế kỷ đã qua. Thu thập thêm thông tin chính là học hỏi. Nhưng bạn phải luôn nhớ rằng tín điều không phải là điều mà tín đồ giả định.