Người ta vẫn có thể thức trong khi đang đọc trên một chiếc giường hay ghế êm ái, và nhiều người vẫn căng mắt ra đọc đến khuya trong ánh sáng lờ mờ. Đó là luôn lưu tâm đến những gì tác giả viết, đọc đi đọc lại các đoạn có liên quan và khi trình bày kết quả nghiên cứu với một lượng khán giả lớn hơn, người đọc phải trích dẫn nguyên văn ý kiến hoặc luận điểm của tác giả. Còn nếu bạn cần một lời giải thích, thì bạn phải suy nghĩ để hiểu được lời giải thích đó.
Từ những lập luận trên, chúng ta có thể rút ra các quy tắc để sử dụng từ điển một cách thông minh. Nếu là chuyên gia thì có thể kết hợp hoàn toàn. Bên cạnh đó, các nhà xuất bản cũng nhận thấy một mục lục ít chi tiết sẽ hấp dẫn hơn một cuốn sách có tiêu đề chương ít nhiều bí hiểm - họ sẽ muốn đọc sách để tìm ra nội dung.
Từ đó, ta có thể rút ra kết luận ngẫu nhiên rằng nếu không có loại vật chất nào tồn tại mà không có các bộ phận, thì một điểm, theo định nghĩa của Euclid, không phải là vật chất. Ví dụ, người ta viết Tiền Hamlet nhưng thật là nực cười. Trong năm định lý đầu trong tập I cuốn sách trên, ba định lý đầu là các vấn đề về dựng hình hình học.
Giả sử, bạn có một danh mục gồm hàng trăm tên sách mà thoạt nghe đều viết về tình yêu. Chúng ta có thể cảm thấy là mọi người thường không xử trí theo cách tác phẩm nêu. Có một điều đáng ngạc nhiên là rất nhiều người chẳng bao giờ ngó đến mục lục trừ phi họ phải tìm một phần nào đó, trong khi tác giả đã phải dành nhiều thời gian để xây dựng phần này rất công phu.
Nhưng cũng đúng khi khẳng định rằng quy tắc càng chung chung thì chúng càng khác xa với những tình huống phức tạp của thực tế, trong khi bạn vẫn phải tuân theo các quy tắc đó. Do đó, nếu bạn phát hiện ra những chuỗi câu có điểm bắt đầu và điểm kết thúc, có thể bạn đã chạm đến những câu quan trọng. Bạn phải nhận ra một lập luận ngay khi thấy nó.
Thậm chí một số cuốn còn không khuyến khích bạn tìm kiếm. Ở khả năng thứ nhất, mỗi từ đại diện cho một thuật ngữ. Ở khả năng thứ nhất, mỗi từ đại diện cho một thuật ngữ.
Chúng tôi muốn gọi đó là những ghi chú có tính biện chứng (lý do sẽ được giải thích trong Phần 4). Điều này xuất phát từ bản chất phức tạp của con người. Một độc giả thống nhất thuật ngữ với tác giả, nắm bắt được những nhận định cũng như lập luận của tác giả là người chia sẻ quan điểm với tác giả.
Cốt lõi của tác phẩm được trình bày như sau: Nhận định và lập luận là những đơn vị logic, hay đơn vị tư duy và tri thức. Ông ta cũng cố gắng để độc giả dễ dàng nhận ra những thuật ngữ và tiền đề được ông sử dụng.
Đến đây, chúng ta thấy rõ rằng điều quan trọng nhất khi đọc bất cứ tác phẩm triết học nào là phát hiện vấn đề mà tác phẩm đó đang cố gắng trả lời. Việc một số tác giả chú ý sử dụng những từ cổ hoặc các nghĩa cổ khiến cho việc đọc sách cũng gây khó khăn không kém việc dịch sách. Thứ hai là khi có đôi chút hiểu biết đặc biệt về chủ đề của tác phẩm, ta có thể nghĩ sử gia đã sử dụng nhầm nguồn tài liệu của ông ta hoặc có thể bị thông tin nhầm về những sự kiện liên quan đến chủ đề.
Mỗi từ được sắp xếp đúng chỗ sẽ giúp việc điều chỉnh đơn giản hơn nhiều. Nhưng cơ bản, có ba câu trả lời chính là: có, không, và chúng ta không thể biết được. Tuy nhiên, những mô tả đó vẫn quan trọng vì câu chuyện của Thucydides có ảnh hưởng tới phần lịch sử tiếp theo của nhân loại.