Bạn chỉ có thể cảm nhận được nó khi tâm trí bạn tĩnh lặng. Đồng hóa với tâm trí của mình sẽ tạo ra một tấm màn che mờ ảo quanh những khái niệm, danh xưng, hình ảnh, chữ nghĩa, các phán xét, và các định nghĩa ngăn chặn mọi quan hệ đích thực. Nhưng nếu nơi bạn cần đến hay những bước đi bạn dự tính thực hiện trong tương lai thu hút quá nhiều quan tâm của bạn đến mức đới với bạn chúng hóa ra quan trọng hơn bước đi bạn sắp thực hiện ngay bây giờ, thì bạn sẽ hoàn toàn quên đi mục đích nội tại của chuyến du hành, vốn chẳng liên quan gì đến nơi bạn muốn đến hay việc bạn muốn làm, nhưng mọi thứ đều liên quan đến cách thức hiện.
Khuôn mẫu suy nghĩ tạo ra một phản ảnh khuếch đại của chính nó dưới dạng một xúc cảm, và tần số rung động của xúc cảm ấy tiếp tục nuôi dưỡng khuôn mẫu suy nghĩ ban đầu. Theo tôi, điều ông nói về sự chọn lựa cũng áp dụng cho lòng khoan dung. Nói cho cùng, chỉ có một vấn đề duy nhất mà thôi: đó là tâm trí tự buộc mình vào thời gian.
Có lẽ tâm trí không bao giờ tìm ra được giải pháp, mà nó cũng không cho phép bạn làm như thế, bởi vì bản thân nó vốn là một trong các nguyên nhân nội sinh gây ra “vấn đề”. Tất cả những giải pháp khác đều là điên rồ. Hầu như bạn bị khống chết mà không hề hay biết, và vì thế bạn xem thực thể khống chế mình là chính bạn.
Có lẽ bạn sẽ mãi mãi chờ đợi đó. Tôi gọi nó là sự hiện trú. Đừng trách cứ cuộc sống đã đối xử bất công với bạn, cũng đừng trách cứ bản thân bạn.
tình thương không phải là cánh cổng dẫn vào cõi Bất thị hiện; nó chính là cái đến với thế giới này xuyên qua cánh cổng ấy. Hãy qua sát sự cưỡng chế buộc bạn phải nói hay suy nghĩ về nỗi đau của mình. Có lẽ bạn chưa tìm hiểu thật sâu sắc hoàn cảnh của nhân loại trong tình trạng bị thống trị bởi tâm trí vị ngã.
Nếu không thể hành động, chẳng hạn như trong trường hợp bạn đang ở tù, bạn còn lại hai chọn lựa: phản kháng hoặc vâng phục; cảnh tù ngục hoặc tự do nội tâm với các điều kiện bên ngoài; đau khổ hoặc thanh thản nội tâm. Nếu không, “sự chấp nhận” của bạn chỉ trở thành một nhãn hiệu, một chiêu bài do tâm trí bày đặt ra, nó cho phép tự ngã của bạn tiếp tục mặc tình thỏa thích với sự bất hạnh, và do đó tăng cường cảm nhận về sự cách biệt của nó với những người khác, với hoàn cảnh xung quanh bạn, với cái ở đây và ngay bây giờ của bạn. Nhưng bạn không thực sự biết rõ điều đó cho đến khi bạn nhận ra được tinh hoa Thượng Đế của riêng bạn chính là ý thức thuần túy (pure consciousness).
Tức là bạn đã kiến tạo một cái tôi bất hạnh từ cái quầng chứa nhóm đau khổ cảu bạn, và một mực tin chắc rằng cái ảo tưởng do tâm trí giả lập này đích thị là con người bạn. Khi vâng phục, bạn hãy hướng chút ít dấu vết phản kháng nào còn sót lại bên trong bạn không. Và bằng cách này hay cách khác, tôi là một bộ phận thuộc bản tính ấy, giờ đây tôi nhận ra rằng trước kia mình không thực sự nhìn thấy cội cây đó, mà chỉ mới thấy một hình ảnh nông cạn và vô tri vô giác của nó thôi.
Còn “chờ đợi dài hạn” là chờ đến kỳ nghỉ mát sau, chờ đợi một việc làm tốt hơn, chờ đợi con cái trưởng thành, chờ đợi một mối quan hệ thục sự có ý nghĩa, chờ đợi thành công, chờ đợi kiếm được nhiều tiền của, chờ đợi trở thành nhân vật quan trọng, chở đợi đến lúc giác ngộ. Nhưng bao lâu tiêu cực vẫn còn đó, khi ấy bạn hãy cứ lợi dụng nó. Dù các ý nghĩ và xúc cảm của bạn về tình huống này có biện minh được hay không cũng không quan trọng.
Hãy hiện trú toàn triệt, bởi vì các hành vi buộc tội, phòng vệ, công kích – tất cả những khuôn mẫu nhằm tăng cường hay bảo vệ tự ngã hư ngụy hay để đáp ứng các đòi hỏi của nó – khi ấy sẽ dễ dàng tuôn tràn ra. mọi vật hay mọi cơ thể vật chất đều xuát phát từ cái không, đều được bao bọc chở đõ bởi cái không, và sau cùng sẽ quay về cái không. Tôi thích lối định nghĩa đơn giản của Đức Phật, Ngài cho rằng giác ngộ là “kết thúc khổ đau”.
Lòng trắc ẩn là một trong những tình cảm cao cả nhất con người có thể có được, nó có sức mạnh hàn gắn và chuyển hóa vĩ đại. Sự chối bỏ một cách bất thức bản chất loài vật của họ rất nhanh chóng hình thành. Đây chính là tâm trí vị ngã, và đâu cũng chính là chỗ mà sai lệch lớn lao hình thành.