Rất nhiều độc giả sợ không trung thực với ý kiến của chính họ nếu họ đứng ở một phía độc lập và tự thắc mắc về những gì họ đọc. Nếu bạn muốn diễn đạt chính xác tính chỉnh thể của một cuốn sách (quy tắc 2), bạn phải chỉ rõ được những phần đã làm nên tính chỉnh thể ấy (quy tắc 3). Định lý 5 là kiểu định lý chứng minh mối quan hệ nếu thì.
Sẽ là võ đoán chứ không phải biện chứng nếu với mỗi vấn đề quan trọng được nhận diện và phân tích, nó đều khẳng định hoặc cố gắng chứng minh tính đúng đắn hay sai lầm của bất cứ quan điểm nào. Trên thực tế, việc chỉ trả lời được những câu hỏi về dữ kiện cuốn sách chỉ thể hiện khả năng đọc sơ cấp (tức là trả lời câu hỏi Cuốn sách nói về điều gì?). Bạn không thể đọc bản gốc để tìm xem những gì được cắt bớt mà phải tự mình suy diễn từ bản rút gọn.
Richards đã viết một loạt chuyên luận với tiêu đề How to read a page (Cách đọc một trang sách). Câu đặc trưng của một cuốn sách thực hành thường nói rằng điều gì đó nên làm; hoặc đây là cách đúng đắn để làm việc gì đó; hoặc hướng tới cái đích nào thì tốt hơn; hay chọn phương tiện nào thì phù hợp hơn. Mức độ tương tự trong cách áp dụng quy tắc 3 thay đổi tuỳ theo đặc điểm của sách cũng như mục đích đọc cuốn đó.
Quá trình đọc hiểu phụ thuộc vào việc bạn có nhận ra được những mối liên hệ đó hay không. Triết học không chỉ quan tâm đến mối quan hệ của các hiện tượng mà còn phải hiểu thấu những nguyên nhân sâu xa và điều kiện dẫn đến các hiện tượng đó. Bốn đánh giá phê bình trên có thể chưa hoàn chỉnh, nhưng đây là những điểm chủ yếu mà một độc giả không đồng tình có thể đưa ra.
Ta có thể thấy có những tay áo có vài chiếc cúc trang trí mà không có cái khuyết nào tương ứng. Mặt khác, một thuật ngữ đơn lẻ có thể được biểu đạt bằng nhiều từ khác nhau. Ngược lại, sẽ có những chênh lệch giữa hai bản đề cương.
Ngược lại, một cuốn sách triết học không bao giờ đề cập đến những thực tế hay quan sát nằm ngoài kinh nghiệm của một người bình thường. Nguyên nhân là họ chưa bao giờ đọc cuốn sách này, và cho rằng cuốn sách phải liên quan gì đó đến sự phát triển của loài người. Nhiều chuyên gia giáo dục thừa nhận việc dạy cách đọc cho trẻ em theo cách hiểu cơ bản nhất của từ đọc là vấn đề rất quan trọng.
Mặc dù vậy, vẫn còn một số khúc mắc. Cuối cùng là về cách thức. Học sinh có thể bắt đầu đồng hoá các kinh nghiệm đọc của mình - tức là mang những khái niệm của một tài liệu này chuyển sang một tài liệu khác, và so sánh quan điểm của các tác giả khác nhau về cùng một chủ đề.
Không phải bao giờ giả thuyết hay các quy tắc lập luận cũng được nêu ra ngay từ đầu, nhưng chúng chính là nguồn gốc của kết luận. Đây chính là trở ngại lớn nhất khi đọc những cuốn sách cổ, vì chúng thường chứa nhiều chi tiết khác với những điều độc giả đương đại biết. Người ta dùng từ điển để diễn đạt các dữ kiện.
Ta có thể thấy có những tay áo có vài chiếc cúc trang trí mà không có cái khuyết nào tương ứng. Giả sử, thông qua đọc kiểm soát một số sách, bạn đã có khái niệm tương đối rõ về chủ đề mà ít nhất vài cuốn trong số đó bàn tới. Sau đó, trong quá trình đọc phân tích, bạn cần trả lời những câu hỏi về tính chân thực và tầm quan trọng của cuốn sách.
Đọc sơ qua nắm ý chính, dù cũng rất hữu ích cho bước đầu tiên của việc đọc phân tích, nhưng cơ bản là để chuẩn bị cho bước thứ hai: hiểu được nội dung cuốn sách bằng cách thống nhất thuật ngữ với tác giả, diễn giải các nhận định của tác giả và theo sát các lý lẽ tác giả đưa ra. Nhưng điều này không làm mất đi tính thực hành trong cuốn sách của Kant. Nhưng làm cách nào để phân biệt chính xác giữa hai điều này?