Bài học này nổi lên khi Warren gần như mất toàn bộ 700 triệu đôla đầu tư vào công ty Salomon Brothers trên Wall Street. Triết lý này đã đưa ông từ một người giàu chuyển sang siêu giàu. Warren xem đây là một cách nói ẩn dụ trong đầu tư: Để trở thành nhà đầu tư vĩ đại ông phải biết chờ đợi đến đúng cơ hội.
Warren nổi tiếng là đứng riêng một mình ngay từ những ngày đầu mới tham gia sự nghiệp đầu tư. Ông cũng nhận thấy rằng trong đầu tư, khác với Ted chỉ được quyền đánh bóng tốt ba lần, ông có thể ngồi nhìn vào bàn ăn suốt cả ngày để chờ đợi cho đến khi cơ hội đầu tư hoàn hảo xuất hiện. Warren, một người luôn suy nghĩ lý trí, cho rằng việc tăng thêm một vài tuổi thọ nhờ chuyển sang một chế độ ăn khỏe mạnh hơn thật không đáng với việc giảm đi thỏa mãn khi phải bớt ăn các món yêu thích này.
(Warren không có ý kiến khuyên nhủ gì về vấn đề li dị. Bạn không thể quay ngược lại và suy nghĩ xem đây là một thương vụ tốt hay xấu. Warren vẫn luôn nói rằng khí chất cần thiết nhất để đầu tư giỏi là biết tham lam khi người khác sợ hãi và sợ hãi khi người khác tham lam.
Danh sách này còn dài nữa, và hầu như hiếm có ngoại lệ rằng mỗi khi họ đi chệch khỏi ngành kinh doanh tuyệt vời đã giúp họ trở nên giàu có khủng khiếp, họ sẽ phải chịu mất mát số tiền lớn - giống như khi Coca-Cola tham gia vào kinh doanh điện ảnh. Thử lấy một ví dụ minh họa: $100. Sau khi hôn phải vài con ếch trong sự nghiệp của mình, ông kết luận rằng chúng chẳng hấp dẫn tí nào.
Khi giá lên cao, Warren thường rút lui khỏi thị trường; khi giá xuống thấp, Warren bắt đầu quan tầm đến việc mua vào, nếu chúng xuống đến mức chấp nhận được và nếu đó là công ty chấp nhận được thì ông sẽ mua vào. Giá cổ phiếu của nó đã tăng từ 19 đôla năm 1965 đến 95. Khi bạn bắt đầu nghĩ về dài hạn, bạn sẽ nghĩ đến chất lượng và bản chất kinh tế dài hạn của công ty.
Warren học được rằng một khi bạn đã ký hợp đồng, thương vụ xem như đã chốt. Sự bất ổn trên thực tế chính là bạn của người mua dựa trên giá trị dài hạn. Ví dụ như công ty sản xuất cheiving gum Wrigleys.
Họ dùng tiền mặt để mua hàng từ các nhà bán sỉ, đồng thời họ mua với số lượng lô hàng lớn, thường bằng cả tháng sản xuất, vì vậy họ có thể thương lượng giá thấp hơn những đối thủ mua hàng trả chậm. Điều này hình thành một cuộc sống nhạt nhẽo cho những người bạn yêu thương, trong đó có cả bản thân của bạn. Sự phức tạp càng cao, thì nhu cầu phải có chuyên gia hướng dẫn càng tăng.
Đến năm 1973 - 74, thị trường đã đảo chiều và cổ phiếu được bán đổ bán tháo với giá rẻ mạt. Điều này cũng là lời cảnh tỉnh đối với những kẻ giàu có cực kỳ điên rồ cho rằng tiền bạc giúp họ thông minh hơn trong mọi lĩnh vực. Và bởi vì những sản phẩm này bao giờ cũng thỏa mãn kỳ vọng khách hàng, nhà sản xuất ra chúng có quyền đòi một mức giá cao hơn.
Quyết định càng khó khăn hơn đối với những công ty nằm trong khoảng giữa, nhưng nếu bạn muốn được như Warren, bạn có thể sẽ phải tránh ra cả những công ty nằm trong khoảng giữa và chỉ tập trung vào những trường hợp rõ mười mươi mà thôi. Nếu bạn là người rẻ tiền và bủn xỉn trước khi giàu, thì bạn sẽ vẫn rẻ tiền và bủn xỉn khi bạn giàu. Đôi khi những cú vút giá này làm cho giá cổ phiếu rớt xuống rất thấp so với giá trị dài hạn của công ty, và ngược lại đôi khi lại đẩy giá lên quá cao so với giá trị dài hạn của nó.
Sau khóa học ở Columbia, Warren đến làm việc cho công ty đầu tư của Graham tại Wall Street, và kết thúc câu chuyện này là những gì kết tinh nên các huyền thoại tài chính. Một số ví dụ vĩ đại thể hiện cách Warren tận dụng sự dao động của thị trường chứng khoán để mua vào là khi thị trường sụp đổ năm 1973-74, ông đã mua 10 triệu đôla cổ phiếu của Washington Post, bây giờ trị giá trên 1,5 tỉ đôla; khi thị trường sụp đổ nảm 1987, ông bắt đầu mua vào cổ phiếu của Coca-Cola với trị giá tương đương 1 tỉ đôla nhưng giá lúc đó chỉ nhỉnh hơn 8 triệu đôla; và trong thời kỳ suy thoái của ngân hàng, ông mua 400 triệu đôla cổ phiếu Wells Fargo, đến năm 2006 giá trị đã trên 1,9 tỉ đôla. Ngoài ra, khi cổ phiếu xuống giá, không có lý do gì bạn lại nổi giận với nó - nó đâu có biết bạn đang sở hữu nó.