Liên quan đến quy tắc này, có một số điểm nữa cấn lưu ý. Là một độc giả không chuyên, bạn không cần đọc sách khoa học để trở thành uyên bác trong lĩnh vực đó mà chỉ cần đọc để hiểu lịch sử và bản chất khoa học. Điều này cho chúng ta một gợi ý nữa là những nhận định chủ chốt phải nằm trong các lập luận chính của cuốn sách.
Ai có thể khẳng định là không có gì khác ngoài âm điệu hoặc cử chỉ trong giao tiếp hữu thanh giữa hai người với nhau? Âm điệu giọng nói rất quan trọng, đặc biệt là khi quan hệ tình cảm là nội dung chủ yếu của cuộc giao tiếp và ngôn ngữ của cơ thể có thể nói với ta nhiều điều nếu chúng ta chịu khó lắng nghe. Lấy ý kiến của người khác không phải là trả lời mà là lẩn tránh các câu hỏi. Ví dụ, nếu bạn nói mọi người đều bình đẳng, chúng tôi có thể nghĩ là bạn cho rằng khi sinh ra, ai cũng được tạo hoá ban cho trí thông minh, sức khoẻ và những khả năng khác hoàn toàn như nhau.
Đa số các triết gia chuyên nghiệp ngày nay không còn tin rằng họ có thể trả lời các câu hỏi hạng nhất. Từ điển trước hết là một công cụ giáo dục. Cách hiểu đa nghĩa này không chỉ là dạng bài tập cơ bản trong nghệ thuật đọc sách, mà còn có xu hướng tạo cho trí óc ta thói quen luôn ý thức được rằng một đoạn văn phức tạp có thể chứa đựng rất nhiều lớp nghĩa khác nhau.
Bạn không thể xác định được các từ khoá trong một đoạn nếu không hiểu nội dung của cả đoạn. Tóm lại, để tuân thủ nguyên tắc 1 của việc đọc sách bạn phải biết đó là loại nào. Những gì bạn hiểu về cuốn sách vẫn đúng và bây giờ nó lại đúng theo nhiều cách hiểu khác nữa.
Điều này lý giải tại sao các kỹ năng đọc và viết được hình thành thông qua ngữ pháp là logic. Họ cho rằng, niềm tin vào bổn phận như một quan niệm đạo đức có giá trị là điều phi thực tế. Trên thực tế, anh ta cần phải thể hiện là mình hiểu để có thể tiếp tục diễn đạt ý kiến.
Các tác phẩm khoa học xã hội không giới hạn ở người thuật việc thật. Nếu độc giả nào không nhận thấy sự chuyển đổi này thì rất khó có thể giao tiếp hay làm việc. Khi đó có nghĩa là bạn đã tạo nên thói quen thực hiện toàn bộ các thao tác.
Theo nghĩa này, ai cũng có thể sáng tác thơ trong một tâm trạng nhạy cảm, cô đơn ở mọi thời điểm. Đến đây, chúng ta thấy rõ rằng điều quan trọng nhất khi đọc bất cứ tác phẩm triết học nào là phát hiện vấn đề mà tác phẩm đó đang cố gắng trả lời. Ví dụ, cuốn sách lịch sử về cuộc nội chiến ở Mỹ không phải là sách lịch sử thế giới ở thế kỷ XIX.
Đôi khi, điều buộc người đọc phải tạo ra một khung câu hỏi theo cách không tác giả nào đúng. Khi đánh giá một cuốn sách thực hành, mọi thứ đều hướng tới kết quả đạt được. Điều đó có nghĩa là bạn không nhất thiết phải đọc hết từ đầu đến cuối cuốn sách mới áp dụng được bốn quy tắc này, rồi sau đó lại đọc đi đọc lại cuốn sách để áp dụng các quy tắc khác.
Việc đọc thầm nhanh và toàn diện đã trở thành kỹ năng được đặc biệt quan tâm trong những năm từ 1920 đến 1925. Nhưng còn có những thứ khác nữa trong giao tiếp của con người. Đôi khi người ta gọi đó là cấp độ biết chữ tám, chín, hay mười.
Khi đọc và nghe, chúng ta phải suy nghĩ, cũng giống như việc phải suy nghĩ trong khi nghiên cứu. Theo truyền thống, có thể gọi chúng là sách linh thiêng hay thần thánh nhưng những từ đó hiện nay không còn phù hợp với các tác phẩm loại này, mặc dù với một số tác phẩm chúng vẫn còn hiệu lực. Chúng liên quan chặt chẽ với nhau và tạo thành một nhóm quy tắc có cùng mục đích.