Đọc kịch của Shaw mà không đọc phần tựa tức là bạn đã quay lưng lại với phao cứu trợ giúp bạn hiểu nội dung tác phẩm. Trong trường hợp đó, anh ta buộc phải sắp đặt nguyên nhân của các sự kiện cũng như động cơ của những hành động đó. Ai không thể sử dụng hiệu quả các chú thích và các từ viết tắt ở đầu mỗi cuốn từ điển thì đó là lỗi của chính bản thân người ấy.
Thực tế này có thể áp dụng vào trường hợp của câu và nhận định. Trong việc đọc sách, khi độc giả bất đồng quan điểm với một vấn đề được trình bày trong sách, độc giả đó cần phải đảm bảo rằng sự bất đồng ý kiến này không xuất phát từ hiểu lầm. Không ai đưa ra những đánh giá thực tiễn nghiêm túc hay bắt tay làm một việc gì mà không có chút cảm xúc nào.
Khi nắm vững nội dung cuốn sách, độc giả đã đưa mình lên ngang tầm với tác giả. Đó là lý do tại sao quy tắc 3 đặc biệt cần thiết như là một sự bổ sung cho quy tắc 2. Các quy tắc mà chúng tôi đang thảo luận chính là để giúp bạn thoả mãn sự ham hiểu biết đó.
Ví dụ, thi sĩ phải dùng trí tưởng tượng để làm thơ, nhưng người đọc không cần phải tưởng tượng để đọc bài thơ đó. (1) Các yếu tố của một tác phẩm giả tưởng bao gồm các phần và tình tiết, các nhân vật, suy nghĩ, lời thoại, cảm xúc và hành động của nhân vật. Ví dụ, nếu bạn hỏi thuyết nhân quả có phải là một tiến trình vô tận không, có phải mọi thứ đều có nguyên nhân của nó không và câu trả lời là có thì bạn có thể rơi vào một vòng luẩn quẩn vô tận.
Đọc một cuốn tiểu thuyết, ta cũng có sự yêu ghét với từng nhân vật. Khi bạn đã hiểu bài thơ trong tính thống nhất của nó, dù sự hiểu này chưa rõ ràng, bạn vẫn có thể đặt ra những câu hỏi về bài thơ đó. Phần 2 và 3 - miêu tả các thành phần cấu tạo nên Hạ viện và Thượng viện, đồng thời nêu rõ phẩm chất chuyên môn của từng thành viên trong viện.
Kinh nghiệm đặc biệt chỉ có ở những người chấp nhận khó khăn để khám phá ra nó. Tóm lại, bất đồng là những vấn đề có thể tranh luận được. Thí nghiệm mà các tác giả trên nói đến chưa chắc đã được họ thực hiện trong phòng thí nghiệm.
Chúng ta nhận biết sự vật qua các giác quan và trí tưởng tượng. Độc giả phải tìm ra sự thống nhất đó, tìm ra điểm khác biệt và trật tự của các phần. Hội thoại triết học: Đây là phương thức trình bày triết học đầu tiên tính theo thời gian (không phải theo tính hiệu quả) và được Plato dùng trong tác phẩm Dialogues (Những cuộc hội thoại).
Vấn đề là cái nào được nhấn mạnh hơn. Người lớn không đánh mất sự tò mò vốn là một đặc tính của con người, nhưng sự tò mò của người lớn thoái hoá dần về số lượng. Không như tiểu sử cuối cùng, tiểu sử được uỷ quyền viết thường được người thừa kế hay bạn bè của một người nổi tiếng nào đó đặt viết rất cẩn thận, sao cho những sai lầm mà nhân vật của cuốn tiểu sử đã làm hay những thành công mà anh ta đạt được đều được nhìn theo chiều hướng tốt đẹp nhất có thể.
Bạn có thể gấp góc những trang có đánh dấu, hay ép một mảnh giấy vào giữa các trang. Cùng một từ nhưng có thể có những cách sử dụng khác nhau, chuyển từ phần này sang phần khác, đặc biệt là trong một ngôn ngữ không có nhiều biến tố như tiếng Anh. Nếu những nhận định khác này được chứng minh, chúng lại có thể được dùng làm giả thiết để chứng minh nhiều vấn đề khác.
Thực tế, Tolstoy từng nói rằng ông đã biết thêm nhiều về trận Waterloo nhờ sự lý giải của Stendhal. Ví dụ, hiện nay tại nhiều nước trên thế giới, người ta tiến hành những nghiên cứu chuyên sâu về sự nghiệp và tính cách lạ thường của Isaac Newton và gọi đó là ngành Newton. Nhưng những thành phần đa dạng cấu thành nên một tác phẩm khoa học xã hội lúc kết hợp theo cách này, lúc theo cách khác khiến cho câu hỏi này rất khó trả lời.