Tuy nhiên, không nên dựa hoàn toàn vào phần này vì cách sắp xếp nội dung các phần của tác giả có thể đi lệch hướng. Do đó, sách tham khảo chỉ có thể coi là cứu cánh cho sự thiếu hiểu biết của bạn một cách rất hạn chế. Một độc giả thuần thục thường hoàn thành tất cả công đoạn này cùng một lúc.
Hãy cởi mở và sẵn sàng thay đổi ý kiến chứ đừng chỉ chăm chăm bắt người khác thay đổi ý kiến theo mình. Chúng ta cũng biết rằng đã có lúc sự việc này gây ra tranh cãi ở cả bên ngoài nước Mỹ vì thông tin về chiến thắng của miền Bắc không đến được với họ cho đến tận cuối tháng năm, sáu hay bảy năm 1865. Tất nhiên là hai cách suy nghĩ là khác nhau.
Ví dụ như tiêu đề của tác giả người Anh Jeremy Collier: A Short View of the Immorality and Profaneness of the English Stage, together with the Sense of Antiquity upon this Argument (Một cái nhìn thiển cận về sự đồi bại và trần tục của sân khấu Anh, cùng ý thức chống lại điều này của người xưa). Đối với loại sách thực hành nói về các nguyên tắc tạo nên quy tắc, những nhận định và lý luận chính của nó thường giống sách lý thuyết đơn thuần. Đơn vị logic mà quy tắc 7 hướng tới là lập luận - một chuỗi những nhận định, cái nọ bổ trợ cho cái kia.
Nhưng nếu vậy có thể bạn phải mất nhiều tháng, nhiều năm mới hoàn thành xong. Sau đó, đọc phần bổ đề và hệ luận, đọc phần chú giải nêu lên mối quan hệ giữa các định đề và mối quan hệ của toàn bộ cuốn sách. Cụ thể, cho dù chúng ta cảm thấy những gì đúng là tốt, chưa chắc ta đã cho rằng những gì sai là xấu.
Nếu bạn không biết cách thông cảm khi đọc một quyển sách, sự bất đồng của bạn có thể mang tính chất tranh cái chứ không tế nhị hay lịch sự. Họ không thể phân biệt những từ họ không hiểu một cách đầy đủ với những từ đã hiểu. Tiếp đến, chúng tôi dùng phép loại suy để chuyển các quy tắc đọc sách khoa học thành các quy tắc đọc sách giả tưởng.
Lịch sử của một từ có chứa các thông tin về quá trình biến đổi vật chất, cách viết và cách phát âm; nêu lên các nghĩa chuyển; phân biệt nghĩa cổ; ít hoặc không sử dụng nữa với nghĩa hiện đại, thông dụng; phân biệt thành ngữ, từ thông tục hoặc tiếng lóng. Sự hăng hái mà độc giả có khi bắt đầu đọc các tác phẩm lớn thường nhanh chóng nhường chỗ cho sự thiếu hụt vô vọng. Đây là một vấn đề rất quan trọng.
Phần lớn sách triết học đều nêu lên một số giả thuyết mà các tác giả cho là hiển nhiên. Bên cạnh đó, khi đưa ra bất cứ nhận xét nào, độc giả phải có những lâp luận chứng minh cho quan điểm của mình. Cuốn Nguồn gốc các loài của Darwin được coi như một ví dụ điển hình về tính chỉnh thể của một tác phẩm lý thuyết trong lĩnh vực khoa học.
Giữa tác phẩm mô tả và tác phẩm giả tưởng còn có sự khác biệt về ngôn ngữ. Trên thực tế, cụm từ suy tàn và diệt vong đã trở thành thành ngữ. Điều này làm cho vấn đề càng khó khăn hơn.
Bạn nên tâm niệm rằng đây là điều mà bạn phải làm cho kỳ được nếu muốn hiểu tác giả. Bạn chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ đó bằng cách đọc qua một lượt từ đầu đến cuối cuốn sách. Nhưng điều này ít khi xảy ra.
Cuốn sách này ghi lại sự biến thể của các vật thể sống qua nhiều thế hệ, và cách thức chúng chuyển sang những họ thực vật và động vật mới; bàn về sự thuần hoá vật nuôi trong nhà cũng như những biến đổi dưới tác động của điều kiện tự nhiên; chỉ ra cách thức đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên để tạo nên và duy trì sự phân họ động thực vật; đưa ra quan điểm rằng các loài không cố định và luôn biến đổi trong quá trình chuyển tiếp từ trạng thái kém rõ ràng sang trạng thái rõ ràng và ổn định hơn, thông qua một loạt dẫn chứng từ những loài động vật đã tuyệt chủng, từ những so sánh về phôi thai học và giải phẫu học. Người ta cho rằng ông cũng đã viết những mẩu đối thoại nhưng không có cái nào tồn tại được lâu. Điều này lý giải tại sao chúng ta gọi những câu ẩn chứa nhận định là câu tường thuật và những câu nêu câu hỏi là câu nghi vấn.