Chúng ta muốn thế giới tốt đẹp hơn, nhưng hiếm khi hứng thú với những lời kiến nghị thường là cay nghiệt khi mô tả về sự khác biệt giữa hiện thực và những điều lý tưởng của các tác giả. Tại sao việc đánh dấu vào một cuốn sách lại là điều không thể thiếu khi đọc sách? Thứ nhất, nó giúp bạn tỉnh táo hoàn toàn . Vì vậy, chính bạn phải tạo lập được các thuật ngữ và đưa tác giả đến với những thuật ngữ đó, chứ không phải ngược lại.
Các triết gia không làm việc trong phòng thí nghiệm, cũng không nghiên cứu thực địa. QUY TẮC 2: TRÌNH BÀY SỰ THỐNG NHẤT CỦA TOÀN BỘ NỘI DUNG CUỐN SÁCH TRONG MỘT CÂU ĐƠN HOẶC MỘT ĐOẠN VĂN NGẮN. Họ biết rằng chỉ sau một thời gian ngắn, họ sẽ biết danh tính từng người.
Nhiều tác phẩm lớn không chỉ có nội dung liên quan với nhau mà còn được viết theo một trình tự nhất định mà người đọc không thể bỏ qua. Đối mặt với cuộc thảo luận về sự tiến bộ trong nhiều tác phẩm khảo cứu còn lại, nhiệm vụ của chúng tôi là phải phát triển một hệ thống thuật ngữ mang tính trung lập. Có thể bạn chỉ đánh dấu những từ cụ thể sau khi gặp khó khăn trong việc tìm hiểu ý nghĩa một câu.
Xét về một khía cạnh nào đó, tất cả chúng ta đều như người bị bỏ trên hoang đảo. Cuốn sách này bao gồm rất nhiều định lý, phần dựng hình và các định đề. Có sự khác biệt rõ nét giữa ghi chú cấu trúc và ghi chú ý niệm.
Chúng ta thường mặc định là tác giả cuốn sách chúng ta muốn đọc kỹ phải là người giỏi hơn ta, nhất là khi đó là một tác phẩm vĩ đại. Cách tốt nhất là bạn dùng những từ khác hẳn nhưng vẫn diễn đạt đúng ý người viết. Ở đây có sự hàm ẩn về một cấu trúc khái niệm - một hệ thống những nhận định và câu hỏi về một chủ đề duy nhất.
Nếu bạn nắm chắc kỹ năng và đã rất nỗ lực mà vẫn không thể nắm được tính chính thể của cuốn sách, không thể phân biệt được các phần và mối liên hệ giữa chúng thì rất có thể cuốn sách bạn đang đọc là một cuốn sách tồi, dù nó có tiếng tăm thế nào. Nhóm quy tắc cuối không chỉ dừng lại ở vấn đề nhận thức mà đã chạm tới vấn đề đánh giá, phê bình. Còn dữ kiện thì không thay đổi vì nó phản ánh hiện thực và luôn đúng.
Giả sử nếu ông sử dụng từ reading theo một nghĩa khác ở một phần khác trong cuốn sách - chẳng hạn trong cụm từ reading nature (bản chất của việc đọc) thì độc giả vẫn dễ dàng nhận thấy sự chuyển đổi sắc thái ý nghĩa của từ reading. Bạn không nhất thiết phải hiểu về lập luận như một nhà logic học. Nếu đọc xong một cuốn sách lý thuyết, quan điểm của bạn về vấn đề viết trong sách có thay đổi ít nhiều thì bạn buộc phải có những điều chỉnh nhất định về cách nhìn nhận sự việc của mình, nhưng không nhất thiết phải hành động theo sự điều chỉnh đó.
Chỉ riêng chủ đề của cuốn sách là khủng hoảng môi trường cũng đủ nói lên điều này. Tiếp tục đọc qua những điểm bạn cảm thấy khó hiểu, chẳng mấy chốc bạn sẽ đến những đoạn dễ hiểu và tập trung vào những chỗ đó. Cấp độ bốn cũng là cấp độ cao nhất trong quá trình đọc, bao hàm tất cả các cấp khác.
Một cuốn sách khoa học có mục đích chính là truyền tải kiến thức. Trong chương này, chúng tôi sẽ đề cập những vấn đề liên quan đến các cấp độ đọc. Vì đây là giới hạn cuối cùng có thể thấy được nên tất cả các phương diện giao tiếp khác đều phải phục vụ mục đích này.
Thế nhưng các quy tắc để tỉnh táo trong khi đọc không đơn thuần là làm ngược lại những điều trên. Bạn có thể kể lại kinh nghiệm nào của bản thân mà nhận định đó miêu tả, hoặc chỉ ra mức độ phù hợp giữa nhận định của tác giả với thực tế trải nghiệm của bạn không? Bạn có thể minh hoạ cho chân lý đã được phát biểu bằng những ví dụ cụ thể hay không? Tưởng tượng ra một trường hợp khả thi cũng hiệu quả không kém việc nêu ra một tình huống thật. Vậy là bạn đã đọc lướt qua cuốn sách một cách có hệ thống, theo cách đọc kiểm soát đầu tiên.