Nước Mỹ bắt đầu cuộc nội chiến bằng hành động nổ súng vào pháo đài Sumter vào ngày 12 tháng 4 năm 1861 và kết thúc bằng việc tướng Lee, tướng Grant lần lượt đầu hàng ở toà án Appomattox vào ngày 9 tháng 4 năm 1865. Như vậy, ta có thể thấy các định lý này đều cần thiết để bổ trợ cho định lý 5. Nhưng vì các tác giả không ai giống ai nên ta phải tiến hành bước tiếp theo.
Và sẽ không có gì rắc rối nếu đó là một cuốn sách tốt. Hãy đọc nhanh cuốn sách khó nhất để chuẩn bị đọc tốt trong lần thứ hai. Họ tin rằng chỉ có những cuốn sách khoa học và triết học mới thoả mãn được các tiêu chí đặt ra.
Tuy nhiên, định nghĩa này lại làm nảy sinh câu hỏi Thế nào là đọc tốc độ? hay Mối quan hệ giữa các cấp độ đọc và các khoá dạy đọc tốc độ như thế nào?. Nếu bạn nhiễm phải thói quen phục thuộc vào lời bình và sách hướng dẫn, bạn sẽ hoàn toàn mất phương hướng khi không có chúng. Còn mục đích của việc đọc nhiều sách về cùng một chủ đề lại khá khác.
Bản thân triết gia không phải lúc nào cũng nhận thức được điều này. Nói như vậy không có nghĩa là độc giả không nên đưa ra ý kiến phản đối và cố chỉ ra chỗ sai của tác giả. Vấn đề là nếu một độc giả đã hiểu nội dung một cuốn sách, anh ta có thể bất đồng với nó nữa không? Việc đọc tích cực yêu cầu người đọc phải đưa ra quyết định của chính mình.
Đối với những cuốn sách hay, các thuật ngữ thường được tác giả sử dụng điêu luyện. Đối với loại sách thực hành nói về các nguyên tắc tạo nên quy tắc, những nhận định và lý luận chính của nó thường giống sách lý thuyết đơn thuần. Hy vọng độc giả nào quán triệt những quan điểm này, anh ta sẽ không bị cảm xúc hay định kiến chi phối.
Ví dụ, tiêu đề sách lịch sử luôn có những nét đặc trưng như có từ lịch sử xuất hiện, nếu không thì những từ còn lại thường báo cho độc giả biết cuốn sách này viết về chuyện đã xảy ra. Vì vậy, Syntopicon có thể làm thay bước nghiên cứu khởi đầu của những học giả uyên bác hoặc độc giả, tạo điều kiện cho người ấy tiến nhanh đến phần anh ta có thể suy nghĩ độc lập vì anh ta biết những ý tưởng nào đã có rồi. Ví dụ các câu hỏi mang tính lý thuyết sau: Vấn đề đó có tồn tại không? Nó thuộc loại nào? Tại sao nó tồn tại? Nó có thể tồn tại trong điều kiện nào? Nó phục vụ mục đích gì? Hậu quả do sự tồn tại của nó gây ra? Những thuộc tính đặc trưng của nó là gì? Mối liên hệ giữa nó và những vấn đề khác cùng loại hoặc khác loại như thế nào? Nó sẽ diễn biến ra sao? Hoặc những câu hỏi mang tính thực hành như: Nên tìm kiếm những mục tiêu nào? Lựa chọn phương tiện nào cho một mục đích cụ thể? Phải làm gì và theo trình tự nào để đạt được mục đích nhất định? Trong điều kiện hiện tại, làm thế nào là đúng hoặc tốt hơn nên làm gì? Trong hoàn cảnh nào thì làm việc này tốt hơn làm việc kia?
Tri thức hay kiến thức có thể được sử dụng theo nhiều cách, không chỉ để chế ngự thiên nhiên hay sáng chế ra máy móc, những công cụ hữu dụng, mà còn để định hướng phẩm cách và điều chỉnh hoạt động của con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tất cả các biện pháp chúng tôi đưa ra nhằm giúp bạn xác định những từ quan trọng trong một cuốn sách sẽ không đem lại kết quả gì, trừ phi bạn nỗ lực ghi chú và tìm ra ý tưởng ẩn chứa trong các từ đó. Ở đây có sự hàm ẩn về một cấu trúc khái niệm - một hệ thống những nhận định và câu hỏi về một chủ đề duy nhất.
Xét trên khía cạnh nào đó, bạn không cần đặt ra câu hỏi này khi đọc tiểu thuyết, truyện, kịch hoặc thơ, tức là bạn không phải thực hiện thêm bất cứ hành động nào. Sau đây là một số cách bạn có thể dùng: Việc thiếu thông tin có thể là nguyên nhân dẫn tới các kết luận sai lầm.
Nếu họ là những phóng viên giỏi thì chúng ta là người may mắn. Độc giả giàu kinh nghiệm có thể học cách tiến hành đồng thời cả hai, ở đây chúng ta sẽ bàn về chúng như hai thực thể hoàn toàn khác biệt. Bên cạnh đó, mặc dù những cuốn sách này thường mang tính thơ ca hơn là thảo luận hay triết lý, nhưng chúng chính là loại sách lịch sử đặc biệt.
Nếu có một chi tiết đúng và các yếu tố khác có giá trị (tức là giả thiết), chúng ta sẽ chứng minh được điều gì đó là đúng, gọi là kết luận. Tóm lại, ta chỉ có thể học từ những người giỏi hơn ta. Đọc là học từ một người thầy vắng mặt.