Về mặt lý tưởng, ba điều kiện này là điều kiện thiết yếu để có một cuộc đàm luận thông minh và hữu ích. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là đọc phân tích luôn luôn tích cực. Để minh họa cho phương pháp này, chúng ta hãy xem xét một định nghĩa.
Nhưng trên thực tế, phương pháp được minh họa trong phần bàn về đọc phân tích và đọc cùng chủ đề không áp dụng được với tất cả các loại sách. Ngày nay, chúng ta thường nói người hạnh phúc là người hưởng trọn vẹn cuộc sống và suốt cả cuộc đời. Đối với sách lý thuyết, bạn có thể trả lời câu hỏi này bằng cách đối chiếu, so sánh những gì tác giả miêu tả và giải thích về sự vật, hiện tượng với kiến thức của riêng mình.
Chuyên luận mang tính triết học: Aristotle là học trò giỏi nhất của Plato. Loại thứ hai rõ ràng là những tác phẩm vĩ đại, có sức sống mạnh mẽ qua nhiều thế hệ. Bạn phải thừa nhận những quy định đó và bắt đầu đọc từ đó.
Hoặc bạn có thể quyết định rằng hiểu như thế là đủ, và không cần quan tâm đến những gì vượt quá tầm hiểu biết của bạn. Chính kỹ năng đọc kiểm soát sẽ tạo ra lối đi tắt. Đó là vì lịch sử bao gồm cả sự hư cấu và tính khoa học.
Nếu bạn không dùng tiếng Việt để diễn đạt một câu tiếng Anh chứng tỏ bạn không hiểu nghĩa của câu tiếng Anh đó. Thường các tác giả sẽ giúp ta nhận biết điều này. Cấp độ đọc này thường được dạy cho học sinh tiểu học.
Chúng tôi nhận thấy rằng, các thuật ngữ trong truyện đều là tên các nhân vật và sự kiện. Để có thể hiểu và đánh giá những suy luận quy nạp trong một cuốn sách khoa học, bạn phải có khả năng hiểu được những bằng chứng mà nhà khoa học đưa ra làm cơ sở. Tuy nhiên, chỉ biết suy nghĩ của tác giả thôi chưa đủ.
Nhưng lợi thế lớn đó của con người cũng kéo theo nguy cơ lớn: Trí tuệ có thể bị hao mòn đi, như là cơ bắp, nếu nó không được sử dụng. Vì thế, có thể khẳng định rằng chúng ta không nên và không thể đọc một cuốn sách nào một cách cô lập hoàn toàn. Trong lĩnh vực khoa học, có thể phân biệt rõ điều này qua sự khác nhau giữa những chứng cớ nêu lên bằng phương pháp lập luận và những chứng cớ được tạo ra qua thí nghiệm.
Việc viện đến các yếu tố đặc trưng thường kém thuyết phục hơn, nhưng lại có thể giải thích các quy tắc cặn kẽ hơn so với việc lấy ví dụ về việc sử dụng các quy tắc. Người nói hoặc người viết có kỹ năng tu từ tức là biết cách thuyết phục hoặc tạo dựng niềm tin nơi người nghe hoặc người đọc. Họ không tuân theo quy tắc đầu tiên của việc đọc phân tích.
Nếu không có sự mất cân bằng trong chuyển tải vấn đề giữa tác giả và độc giả, thì con người không bao giờ có thể học hỏi lẫn nhau. Giờ thì bạn có thể thấy việc hiểu được thuật ngữ của tác giả có hiệu quả như thế nào. Tương tự, bạn có thể đúng khi đoán chủ đề chính của cuốn sách, nhưng bạn vẫn cần trải qua bài tập chỉ rõ cách nào và tại sao bạn nói được điều đó.
Đọc là học từ một người thầy vắng mặt. Nhưng làm cách nào để phân biệt chính xác giữa hai điều này? Tác giả cần phải có kiến thức đầy đủ hơn, đưa ra những bằng chứng và lập luận thuyết phục hơn.