Những cuốn dạng này đôi lúc cũng rất hay, vì tác giả của nó có thuận lợi mà các tác giả khác không có được là được phép tiếp cận với mọi tài liệu thích hợp. Nhưng cũng sẽ là vô ích nếu cố đọc hay học thuộc cho kỳ hết một cuốn bách khoa toàn thư. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, khi văn hoá nghe nhìn dường như đang dần lấn át văn hoá đọc, khi thời gian con người dành cho việc đọc các loại sách cũng ít hơn trước và ngày càng có nhiều độc giả cảm thấy lúng túng không biết lựa chọn thế nào trước một khối lượng sách, báo khổng lồ được xuất bản hàng ngày, thì phương pháp đọc sách cũng trở nên cần thiết.
Những câu hỏi kiểu này được các triết gia nêu lên, hướng sự chú ý từ sự tồn tại đến sự thay đổi và cố gắng liên hệ sự thay đổi với sự tồn tại. Ngoài việc học được cách đọc hiệu quả hơn, bạn còn biết thêm về cuộc sống và trở nên sáng suốt hơn. Nhưng bạn lại có thể nắm được ý chính trong bộ Đạo đức học của Aritotle hay cuốn Nguồn gốc các loài của Darwin mà chỉ cần đọc kỹ một vài phần.
Do đó, chúng ta đọc tác phẩm của Thucydides không phải vì ông ta miêu tả khá hoàn hảo những gì đã xảy ra, mà vì ở một mức độ nhất định, ông ta đã quyết định lịch sử xảy ra sau này. Chỉ riêng chủ đề của cuốn sách là khủng hoảng môi trường cũng đủ nói lên điều này. Ví dụ, tiêu đề sách lịch sử luôn có những nét đặc trưng như có từ lịch sử xuất hiện, nếu không thì những từ còn lại thường báo cho độc giả biết cuốn sách này viết về chuyện đã xảy ra.
Từ thực tế này, chúng tôi muốn bạn nhớ điều quan trọng nhất là đừng cố chống lại những gì mà một tác phẩm giả tưởng tác động lên bạn. Họ sống là nhờ những yêu cầu mà công việc đặt ra cho trí não họ. Khi không có những cố gắng này, hầu hết độc giả sẽ không ý thức được mình đã bỏ lỡ những gì trong tác phẩm.
Tất nhiên, thơ luôn có vài tính chất như vậy và các nhà thơ đều nhận ra điều đó. Nhưng đây lại là điều cần thiết mỗi khi bạn đọc phân tích một tác phẩm nào đó. Bạn phải thực hành đọc, không chỉ đọc cuốn sách này mà còn phải đọc nhiều cuốn khác.
Vì thế, bạn cũng nên đọc xong tác phẩm và hiểu nó rồi mới đọc đến lời bình. Có ít nhất hai lý do sau: Thứ nhất, từ thường đa nghĩa và có thể được dùng trong nhiều câu khác nhau. Bạn không thể nhảy cóc khi đọc các tác phẩm của Kant và Aristotle vì tư duy nối tiếp liên tục.
Đối với sách miêu tả, chúng tôi có nói rằng loại sách này thường được chia thành hai loại: lý thuyết (chuyên về những gì đã biết) và thực hành (chuyên về các vấn đề hành động). Cũng như quy tắc về từ và thuật ngữ, ở đây, chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Loại thứ nhất là tiểu sử cuối cùng, được coi như lần nghiên cứu cuối cùng, thấu đáo và khoa học về cuộc đời một ai đó đủ quan trọng để xứng đáng có một cuốn tiểu sử về toàn bộ cuộc đời họ.
Một tác giả có thể thiếu những thông tin mà tác giả khác có; mắc lỗi trong giả thuyết mà các tác giả khác không phạm phải; có cùng một cơ sở lý lẽ nhưng lại lập luận thiếu thuyết phục hơn các tác giả khác. Nhưng ngay cả chuyên gia cũng phải đợi tới khi đã hiểu rõ vấn đề mới lên tiếng phê bình. Những điều chúng ta biết đều phụ thuộc vào họ.
Nhưng có nhiều cách kể khác nhau nên chúng ta phải biết sử gia đã chọn cách nào để kể câu chuyện của ông ấy. Nhưng sự bất đồng quan điểm lại tạo ra điều ngược lại với suy đoán - rằng không ý kiến nào mâu thuẫn với nhau lại có thể hoàn toàn đúng, dù nó có được ai tán thành hay không. Bạn không thể nhìn thấy, chạm vào hay tưởng tượng ra khía cạnh chung chung đó.
Bạn tìm thấy những điều thật sự mới mẻ mà trước đó bạn không nhận ra. Đó là lý do tại sao quy tắc 3 đặc biệt cần thiết như là một sự bổ sung cho quy tắc 2. Sau đây là các quy tắc 6 và 7.