Thứ ba, trước khi tham khảo một cuốn sách, bạn phải biết rõ cuốn sách đó được kết cấu như thế nào, từ đó biết cách sử dụng nó. Nếu bạn đã đọc một số sách của Euclid, hãy đọc tác phẩm của các nhà toán học cổ Hy Lạp khác như Archimedes, Apollonius, Nicomachus. Đây chính là những câu mà một triết gia hỏi khi muốn khám phá bản chất của sự vật và phạm vi của sự tồn tại.
Đó có thể là những điều mà triết gia muốn bạn cùng đặt giả thuyết giống họ, hoặc là những vấn đề mà họ cho là hiển nhiên. Nếu bạn nhận ra lý lẽ trước hãy tìm hiểu xem chúng sẽ suy ra điều gì. Aristotle đã viết: Thi ca triết học nhiều hơn so với lịch sử.
Đó cũng là điều công bằng với tác giả khi được trò chuyện với độc giả, được nghe họ nhận xét về tác phẩm của mình. Tức là, chúng ta không có nhiều cơ hội để biết được sự thật của vấn đề, biết chuyện gì thật sự đã xảy ra. Thứ hai, các bài tóm tắt rất hữu ích khi bạn đọc những cuốn sách cùng chủ đề hoặc khi bạn muốn biết liệu một tác phẩm nào đó có phù hợp với công trình nghiên cứu của mình không.
Mặc dù từ điển là sách về từ, còn bách khoa toàn thư là sách về các dữ kiện, nhưng khi tra cứu nó cũng có một số điểm lưu ý tương tự như tra cứu từ điển. Chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng độc giả nên sẵn sàng để tán thành cũng như phản đối. Loại thứ hai là tiểu sử được uỷ quyền viết.
Chúng chỉ đơn thuần được sắp đặt với nhau theo cách mới lạ hơn thôi. Bạn không thể xác định được các từ khoá trong một đoạn nếu không hiểu nội dung của cả đoạn. Chúng tôi không thể xác định cách thức và thời điểm sử dụng mỗi loại phương tiện hỗ trợ này trong từng trường hợp cụ thể.
Tác giả chắc chắn phải hiểu nhiều hơn độc giả, và sách của họ phải chuyển lại những hiểu biết của họ có nhưng độc giả không có. Một cuốn tiểu sử được uỷ quyền viết thường nói nhiều với chúng ta về giai đoạn lịch sử mà nó ra đời, về thói quen và cuộc sống, về những hành động và thái độ được xã hội chấp nhận và ngầm ám chỉ với một chút suy diễn về những vấn đề không được xã hội đồng tình. Tức là, bạn cần nhận thức được các vấn đề mà các nhà khoa học lớn đang cố gắng giải quyết cũng như nguồn gốc phát sinh ra chúng.
Trong đó, phần đầu tiên nói về…, phần thứ hai nói về…, phần thứ ba nói về…, (2) Phần thứ nhất lại bao gồm mấy nội dung nhỏ hơn: nội dung đầu tiên xem xét chủ đề X, nội dung thứ hai bàn về vấn đề Y, nội dung thứ ba đề cập đến Z…, (3) Trong nội dung đầu của phần thứ nhất, tác giả nêu ra mấy luận điểm. Chẳng mấy chốc, bạn có thể đọc được các con chữ khi bạn dõi theo bàn tay. Nó có thể được diễn tả bằng lời hoặc được thể hiện bằng những hành động cụ thể, ít nhiều có âm điệu hay cảm xúc.
Ông dùng từ pointer-reading để chỉ việc đọc các con số hay ký hiệu trên các dụng cụ khoa học, tức là sử dụng từ reading theo nghĩa hoàn toàn thông dụng chứ không phải theo nghĩa chuyên môn. Quy tắc 7: TÌM RA CÁC LẬP LUẬN CƠ BẢN TRONG MỘT CUỐN SÁCH DỰA TRÊN MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC CÂU. Nhiều độc giả dùng ký hiệu Cf để chỉ số của các trang khác có nghĩa là so sánh với hay đề cập tới.
Nhưng đối với những người không đi học và những người cố gắng đọc sách một cách tự nguyện, thì việc học lâu dài chủ yếu dựa vào sách và đọc sách mà không có giáo viên trợ giúp. Họ đã không giả định rằng nếu quan sát bằng kính viễn vọng, họ sẽ thấy sự biến đổi của các thiên thể vượt ra ngoài những gì chúng ta biết bằng kinh nghiệm bình thường. Có những dấu hiệu rất dễ nhận biết như rất nhiều cuốn có từ tiến bộ trong tựa đề, nhưng hầu hết các cuốn sách cũ, dù có liên quan đến vấn đề cũng không hề sử dụng thuật ngữ này.
chúng ta cũng không nên hỏi điều gì xảy ra cho Pierre và Natasha sau khi Chiến tranh và hoà bình kết thúc. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng học bằng khám phá là cách học chủ động, còn học nhờ hướng dẫn là cách học bị động. Trong cả hai trường hợp, hoạt động học diễn ra trong bản thân người học.