Vì thế, nhiều người đã vội kết luận rằng cố gắng đọc một cuốn sách khó ngay từ lần đầu tiên là một sai lầm. Cũng giống như tác phẩm văn chương, hầu hết độc giả có thể nhận ra một tác phẩm khoa học ngay khi nhìn thấy nó. Nếu tác giả các cuốn sách tồi dùng lối viết hàm ngôn, bạn sẽ không thể hiểu được dụng ý của tác giả ngoại trừ việc nhận ra sự diễn đạt thiếu chính xác của anh ta.
Chúng hỏi các câu hỏi hạng nhất và được viết chủ yếu dành cho các độc giả bình thường chứ không phải chỉ riêng cho các triết gia. Trong những năm 1920, 1930, phương thức này rất thông dụng. Có thể sắp xếp trật tự của những cái tốt không khi mà có nhiều cái cùng tốt? Có cái tốt nào quan trọng hơn cái nào không? Có cái nào phụ thuộc cái nào không? Có trường hợp nào những cái tốt xung đột với nhau khiến bạn phải lựa chọn cái này và gạt bỏ cái kia không?
Người ta vẫn có thể thức trong khi đang đọc trên một chiếc giường hay ghế êm ái, và nhiều người vẫn căng mắt ra đọc đến khuya trong ánh sáng lờ mờ. Điều này giải thích tại sao quy tắc 5 của phương pháp đọc phân tích liên quan đến từ vựng và thuật ngữ, trong khi quy tắc 6 mà chúng tôi sắp đề cập lại liên quan đến câu và mệnh đề. Khả năng đó có thể chưa đủ và còn xa mới đạt đến trình độ của người đọc hoàn hảo, nhưng ít nhất họ biết cách đọc được phần cốt lõi của cuốn sách, đưa được một vài nhận định có lý về cuốn sách và đặt được vấn đề cốt lõi đó vào kế hoạch nghiên cứu chủ đề của họ.
Trên thực tế, những xu hướng tương tự cũng đang diễn ra trong các lĩnh vực khác: các nhà triết học thường viết cho các nhà triết học, các nhà kinh tế viết phục vụ các nhà kinh tế… Ngay cả các sử gia cũng thấy rằng các nhà khoa học viết để phục vụ các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học đó đạt kết quả cao hơn là viết cho tất cả các đối tượng. Cách tốt nhất là bạn dùng những từ khác hẳn nhưng vẫn diễn đạt đúng ý người viết. Khi đạt được sự cân bằng, nghĩa là đạt được sự rõ ràng trong thông tin.
Theo quan điểm triết học, văn phong cách ngôn hoàn toàn không phù hợp. Đừng vội phản đối hành động của nhân vật trước khi bạn thật sự hiểu tại sao họ làm như vậy. Dưới bản tay bậc thầy của Plato, văn phong này giúp phát triển sự tìm tòi, giúp người đọc tự mình khám phá.
Sau khi nêu ra quan điểm của mình về vấn đề đó, ông trả lời đáp lại mỗi lý lẽ sai của câu trả lời sai. Họ thích đọc tiếp hơn là dừng lại cẩn thận xem xét những câu quan trọng. Ví dụ như với nhân dân Mỹ, có lẽ cuộc nội chiến Mỹ có ý nghĩa thực tế với tất cả mọi người nên ai cũng biết đôi điều về lịch sử của nó.
Ở cấp độ này, câu hỏi điển hình là Cuốn sách muốn nói lên điều gì? hoặc Kết cấu cuốn sách như thế nào?, hay Cuốn sách gồm những phần nào?. Trong lĩnh vực khoa học xã hội, điều này ít khi xảy ra nên việc phải đọc nhiều hơn một tác phẩm cấp thiết hơn rất nhiều. TỪ LÀ CÁC DẤU HIỆU - từ phải có nghĩa, không chỉ một mà nhiều nghĩa.
Những tác giả lớn đồng thời cũng là những độc giả lớn, và muốn hiểu được họ thì hãy đọc những cuốn sách họ đã đọc. Nói cách khác, bạn sẽ thấy tìm hiểu một bài thơ không hề khó như bạn tưởng. Nhưng những thành phần đa dạng cấu thành nên một tác phẩm khoa học xã hội lúc kết hợp theo cách này, lúc theo cách khác khiến cho câu hỏi này rất khó trả lời.
Lấy ví dụ về cái tốt và cái xấu. Cụ thể, cái tinh tuý của một bài thơ hầu như không nằm ở dòng đầu tiên, thậm chí trong cả khổ thơ đầu. Có nhiều cách lập luận để chứng minh một vấn đề.
Ví dụ, ta không thể kiểm tra tính chân thực của tác phẩm Othello dựa trên kinh nghiệm của bản thân, trừ khi chúng ta thuộc dòng họ Moors và kết hôn với một quý cô người Venetian. Đó cũng là điều công bằng với tác giả khi được trò chuyện với độc giả, được nghe họ nhận xét về tác phẩm của mình. Chỉ khi nào bạn không đồng tình hoặc không thể đưa ngay ra lời đánh giá phê bình, chúng ta mới cần triển khai một số bước tiếp theo.